Business is booming.

Xà phòng: thần dược trị gàu và nấm da đầu hiệu quả

0
Xà phòng: thần dược trị gàu và nấm da đầu hiệu quả

Núc nác hay còn gọi là Nam hoàng bá là một vị thuốc mọc hoang ở nhiều nơi. Loại thuốc này có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, trị gàu và nấm da đầu rất hiệu quả. Vậy cây Núc nác là loại cây gì? Nó hoạt động như thế nào đối với tóc và da đầu? Bài viết dưới đây Sao Thái Dương sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết cho bạn.

Danh pháp

Tên khoa học

Thông hơi Oroxylum indicum (L.).

Tên việt nam

Nam Hoàng Bá, sánh thuyền, hộ pháp mộc, ung ca

Phân loại khoa học

Bignoniaceae (họ hồ tiêu)

Mô tả của cây

Cây cao 7-12m, có thể cao tới 20-25m, phân cành thưa, thân nhẵn, vỏ màu xám tro nhưng khi bẻ ra có màu vàng nhạt. Lá to gấp 2-3 lần, hình lông chim, có thể dài tới 2 m.

Lá chét hình bầu dục, toàn bộ, đầu nhọn, rộng 5-6,5 cm, dài 7,5-15 cm. Hoa màu đỏ tía, to, mọc thành chùm ở đầu cành, dài tới 1m, 5 nhị, trong đó có 1 nhị nhỏ hơn. Quả to, rộng 5-7 cm, dài 50-80 cm, chứa hạt bên trong, được bao bọc bởi một lớp màng mỏng trong suốt sáng bóng, hơi hình chữ nhật.

Cụm hoa mọc thành chùm ở ngọn thân, hình chùy, thẳng, dài 40-80 cm, có nhiều sẹo rõ ở gốc, lá bắc nhỏ, hoa lớn màu nâu đến đỏ sẫm, đài hoa hình chuông, lá đài ngắn, tràng hoa dày. . – Dạng, nhẵn, có 5 cánh hoa, chia 2 môi, mép nhăn có răng cưa cong xuống, nhị 4,5 đều và 1 hơi ngắn, nhị có lông mịn ở gốc, hình bầu dục, dài.

Chồi và quả xuân đào
Chồi và quả xuân đào

Sinh thái

Cây ưa mọc trên đất tơi, xốp với lớp đất mặt sâu, dễ thấm nước. Mùa hoa rơi vào tháng 5-7, mùa đậu quả tháng 8-10.

Phân bổ

Trên thế giới:

Nó phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới châu Á, bao gồm Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Philippines, quần đảo Selip và Timor ở Indonesia.

Ở Việt Nam:

Phân bố phổ biến từ vùng núi có độ cao khoảng 1300m ở Hà Giang đến các tỉnh miền Trung và đồng bằng ven biển.

Các bộ phận được sử dụng

Vỏ và hạt:

Cortex Oroxyli là vỏ đã phơi hay sấy khô của cây.

Hạt Mắc khén là hạt đã phơi hay sấy khô của cây Núc nác, hạt làm thuốc gọi là Mộc bá (mộc là cây, gỗ; Lan hồ điệp là con bướm) vì hạt giống như con bướm gỗ. .

Quả hạch và vỏ cây
Quả hạch và vỏ cây

Thu hoạch và chế biến

Gặt

Hạt thu hái từ cuối thu đến đông, hái quả chín. Vỏ cây Nucifera được thu hoạch gần như quanh năm, tốt nhất vào mùa xuân và mùa hè. Thu hái bằng cách tỉa bỏ vỏ cây ở những cây còn sống, những cây bị đốn ngã ít chỗ.

Sự đối đãi

Hạt được phơi khô, cắt nhỏ rồi lại sấy khô để sử dụng cho lần sau. Võ Núc nác dùng tươi hoặc khô đều dùng được, không cần xử lý gì thêm.

Thành phần hóa học

Vỏ cây có chứa ancaloit, tanin và một số dẫn xuất flavonoid. Các flavonoid thường thấy là: oroxylin A (0,65%), baicalein (0,5%), chrysin, tetuin, nuacin.

Trong hạt có chất kiềm màu vàng, chất béo chứa 80,4% axit oleic, axit palmitic và stearic.

Vỏ rễ chứa chrysin, baicalein, biochanin-A và axit ellagic. Oroxylin A, chrysin, axit cacboxylic triterpene và axit ursolic được tìm thấy trong vỏ quả.

Tác dụng dược lý

Vỏ cây Nucifera được thực nghiệm chứng minh có tác dụng chống dị ứng rõ rệt và tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Heo nái làm giảm tính thấm thành mạch ở chuột mẫn cảm với lòng trắng trứng và không ảnh hưởng đến tính thấm thành mạch ở chuột nhạy cảm với huyết thanh ngựa đã nhạy cảm với parafin.

Trầm hương có tác dụng ức chế giai đoạn cấp tính của phản ứng viêm, biểu hiện rõ rệt hơn ở những động vật mẫn cảm.

Các flavonoid chiết xuất từ ​​vỏ cây cúc cu có tác dụng chống viêm, chống lại phản vệ do lòng trắng trứng ở thỏ và chuột lang và không có tác dụng bảo vệ chống lại sốc do histamine ở chuột lang.

Sản phẩm Nunacin được điều chế từ flavonoid toàn phần chiết xuất từ ​​vỏ cây thủy sinh đã được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến.

Chế phẩm Oroxin là dịch chiết toàn phần từ vỏ cây nước dùng để điều trị bệnh nổi mề đay cho bệnh nhân. So với nunacin, tác dụng của Oroxin không ổn định, tái phát nhiều hơn sau khi ngừng thuốc. Oroxin cũng như Nunacin không gây tác dụng phụ khi sử dụng lâu dài trên lâm sàng.

Người ta còn dùng cách chữa tổ đỉa kết hợp với thuốc Tây y bôi ngoài da.

Nhờ tác dụng đối với da liễu, nó được sử dụng để loại bỏ gàu và điều trị các vấn đề về da của da đầu như tưa miệng, vẩy nến, viêm nang lông, viêm da tiết bã nhờn, và chứng parakeratosis …

Hơn nữa, với thành phần gồm các axit hữu cơ nhẹ cùng với khả năng kháng viêm, kháng khuẩn chống oxy hóa mạnh giúp tẩy tế bào chết trên da đầu và ngăn ngừa sự tấn công của các vi khuẩn gây bệnh ngoài da.

Làm mờ nếp nhăn giúp cân bằng độ pH của da đầu, loại bỏ dầu. Đồng thời, nó còn cung cấp độ ẩm cho da đầu, đặc biệt là chất flavonoid sẽ giúp tóc chắc khỏe, giảm rụng tóc. Do đó, nước thường được tìm thấy trong các sản phẩm chăm sóc tóc và da dầu.

Trong số đó, các sản phẩm Dầu gội thảo dược Thái Dương 7+ nổi bật với những lợi ích như:

  • Làm sạch vi rút gây ra mùi khét của da đầu.
  • Làm sạch vi rút gây gàu, ngứa và rụng tóc.
  • Siêu mềm mượt ngay cả khi tóc ướt, tóc khô.
  • Tóc mềm mượt, óng ả, mềm mại và xoăn bồng bềnh, tạo vẻ đẹp tự nhiên khi nhìn vào và thích thú khi chạm vào.
  • Dưỡng tóc lâu dài giúp duy trì mái tóc bóng đẹp.
  • Làm mát da đầu.
  • Không gàu, không ngứa, không rụng tóc và không gây mùi da đầu bị cháy.
  • Hương thơm sang trọng tao nhã.
  • Không cần dầu xả và không cần giặt hàng ngày.
  • Giành thời gian và tiền bạc.

Xem thêm Dầu Gội Thái Dương 7+ Dược Liệu

Hương vị và hiệu ứng

Theo đông y, Núc nác có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, nhuận phế, chỉ khái, chỉ thống.

Sử dụng và Liều lượng

Sử dụng

Vỏ cây Núc nác chữa vàng da, dị ứng mẩn ngứa, viêm họng, ho khan, đau dạ dày, kiết lỵ, viêm đường tiết niệu, tiểu ra máu, mẩn ngứa ngoài da, sởi.

Quả óc chó được dùng để chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, đau dạ dày, đau bụng, lở loét không lành trong miệng.

Liều lượng

Mỗi ngày dùng 8-16g vỏ khô dưới dạng thuốc sắc hoặc dịch chiết

Hạt đã sắc hoặc phơi khô, nghiền thành miếng nhỏ, ngày uống 2 đến 3g, tán thành bột dùng ngoài, rắc vào vết loét, liều lượng như thế nào.

Chuẩn bị

Một số biện pháp khắc phục

Trị viêm phế quản, ho lâu ngày: Quả óc chó 10g, đường phèn hoặc kẹo mạch nha 30g, 300ml nước sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa ngứa: Vỏ dưa hấu, thạch cao, lá chàm, chỉ vàng, mỗi thứ 20g, sắc uống.

Trị kiết lỵ, đau dạ dày, ợ chua, ợ hơi: Hạt keo khô, tán bột hoặc sắc uống 8-16g mỗi ngày.

Trị vết loét do ăn sơn: Vỏ sắc nước ngọt, giã nhỏ, thêm rượu 30 – 40 ° theo tỷ lệ 1 phần vỏ, 3 phần rượu, ngâm khoảng 2 – 3 giờ, dùng bôi ngoài da.

Chữa bệnh tổ đỉa: Vỏ dưa hấu 30g, khổ qua 50g, thổ phục linh 50g, hạ khô thảo 50g, huyền sâm 30g, đĩa 20g, hạt muồng 15g. Tán bột, sắc thành bột chi, mỗi ngày 20-25g.

Điều trị bệnh trĩ: Vỏ dưa hấu 12g, ngũ bội tử 12g, hoa kinh giới 12g, phèn phi 4g. Túi lấy 300-400ml, cho người bệnh ngâm rửa hậu môn mỗi ngày.

Chữa lành các khớp xấu, bong gân: Vỏ cây mật nhân, Quế, Hồi, Đinh hương, Vỏ cây sồi, Gừng sống, Lá cỏ cà ri, Lá đau xương, Cao su xương rồng, Lá thầu dầu tía, Lá thường xanh, Lá xô thơm, Lá cỏ cà ri, Lá cây huyết dụ, nghệ, hạt cỏ cà ri, hạt máu chó, lá bưởi, lá tầm gửi khế. Giã nát các loại thảo mộc, sao cho nóng và nén chúng lại.

dược liệu
dược liệu

Những lưu ý khi sử dụng thuốc

Để đảm bảo an toàn cho cơ thể, khi sử dụng bài thuốc từ nhục đậu khấu cần lưu ý những điều sau:

Nước có tính hàn, không nên dùng cho người tỳ vị hư hàn.

Những bệnh nhân bị đầy bụng, phân lỏng hoặc đau bụng và tiêu chảy không nên dùng.

Ngoài ra, những bệnh nhân bị cảm cúm gây ho, sốt, sổ mũi cũng nên hạn chế sử dụng.

Nếu dùng dưới dạng thuốc sắc thì dùng hạt của cây từ 1,5 đến 3 g mỗi ngày. Vỏ cây có thể được sử dụng từ 15 đến 30 g mỗi ngày.

Người giới thiệu

  1. Make Tat Law (2013). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Hồng Đức, (tr.65-66)
  2. Tran, CL, Do, VM and Vu, TB (2016). Sổ tay dược liệuẶc. (tr.49)
  3. Nguyen Nhuoc Kim (2007). Bào chế thuốc đông y. (tr.55-56)
Leave A Reply

Your email address will not be published.